Chủ Tịch Hồ Chí Minh » Tư tưởng Hồ Chí Minh » Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 – Những giá trị trường tồn

(Tư tưởng Hồ Chí Minh) - Phần cuối của Bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: …“nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau hơn 15 năm chuẩn bị và tập dượt đấu tranh, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta nhằm xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp đã giành được thắng lợi trọn vẹn.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân và tuyên bố với thế giới việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945

Từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, nhân dân ta hoàn toàn xứng đáng được hưởng cuộc sống tự do, độc lập. Bởi vì đó là cuộc cách mạng của lòng dân Việt Nam và khát vọng vươn đến của của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình. Tuyên ngôn Độc lập đã mở ra kỷ nguyên mới cho toàn dân Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ đất nước.

Bản Tuyên ngôn thể hiện khí phách anh hùng, tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc ta. Từ mùa thu năm 1940, nước ta trở thành thuộc địa của phát-xít Nhật. Khi Pháp rút chạy, Nhật đầu hàng Đồng minh, vua Bảo Đại thoái vị, nhân dân cả nước đoàn kết, nổi dậy đánh đổ xiềng xích thực dân trăm năm, xoá bỏ chế độ quân chủ phong kiến để lập nên chế độ dân chủ Cộng hòa.

Rõ ràng là chúng ta đã “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Do đó, phần cuối của Bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:..“nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.  Đó là tư tưởng về nền độc lập dân tộc chân chính hoàn toàn và là cơ sở, đặt tiền đề hướng đến tương lai ấm no, tự do, hạnh phúc.

Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng câu trích trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tiếp theo sau, là câu trích dẫn từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi…” Đó là tư tưởng văn hóa-chính trị, nhân văn của một lãnh tụ vĩ đại, vì dân, vì nước. Sự mở đầu của Tuyên ngôn độc lập mang tư tưởng chính trị nhưng không bắt đầu bằng lý luận mà bằng những điều hiển nhiên, lẽ phải và đã được tạo hóa ban cho con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng cái “chân lý cao cả” mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ phải đổ bao xương máu và nước mắt để viết nên. Đó là tầm nhìn xa, sự nhạy cảm về chính trị và thông hiểu về thế giới là giành được nền độc lập, quyền tự do, tự quyết cho dân tộc đã khó, nhưng để nền độc lập đó được tất cả các nước thừa nhận, tôn trọng còn khó hơn.

Bởi vì Người luôn thấu hiểu trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, các thế lực thực dân đế quốc luôn tìm cách tiêu diệt chính quyền cách mạng còn non trẻ của  nhân dân Việt Nam.

Mặt khác, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh đã gắn kết, khẳng định quyền cơ bản của con người và quyền của các dân tộc. Đây là những khái niệm pháp lý của quốc gia và quốc tế được xác lập thành phạm trù luật pháp quốc tế hiện đại: Quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Điều đó có ý nghĩa to lớn, vì trong thời điểm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước thuộc địa và phụ thuộc không được luật pháp quốc tế bảo vệ. Các nước đế quốc, chủ nghĩa thực dân Pháp coi vấn đề Việt Nam là vấn đề “nội bộ” của nước Pháp. Với Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã đóng góp một điểm son trong lịch sử luật pháp quốc tế.

Chính vì vậy, tại buổi mít-tinh ở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp ngày 14/5/2010, nhân kỷ niệm lần thứ 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Han D’Orville- Phó Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định “Tuyên ngôn của Người bắt đầu chính từ những trích dẫn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ… Quan điểm của Người đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, Liên Hợp Quốc đã đưa vào Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa…”. Và đến năm 1970, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc mới nhất trí tuyên bố chấm dứt “vô điều kiện chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức và mọi biểu hiện”.

66 năm đã trôi qua, nhưng đọc và suy ngẫm, chúng ta luôn cảm nhận về những nét độc đáo, tính nhạy bén, sự khéo léo trong nghệ thuật đấu tranh ngoại giao qua cách thể hiện tinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Mặt khác, tính khoa học, cách mạng, tính nhân văn cao cả cũng như sức sống vẹn toàn giá trị dân tộc và tính thời đại của Bản Tuyên ngôn vẫn mãi trường tồn.

Tuấn Anh

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@chutichhochiminh.net
Xem thêm: