Chủ Tịch Hồ Chí Minh » Dân chủ, Tư tưởng Hồ Chí Minh » Tư tưởng của Hồ Chí Minh – Pháp quyền Hồ Chí Minh – pháp quyền nhân nghĩa

(Dân chủ) - Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911- 5.6.2011): Pháp quyền Hồ Chí Minh – pháp quyền nhân nghĩa
Một trong những vấn đề mang tính cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là quan điểm về xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền được hình thành (chủ yếu 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước văn minh Âu – Mỹ) trong quá trình Người liên tục tìm tòi, phân tích, so sánh, thiết kế, thử nghiệm trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lênin và những tinh hoa của các nền văn minh cổ, kim, đông, tây. Từ đó, Người đã thấy được việc điều hành xã hội bằng pháp luật là một phương thức rất dân chủ, tiến bộ và là một biểu hiện cao nhất của một xã hội hiện đại.

ho-chi-minh

Hồ Chí Minh

Do nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp từ rất sớm, nên ngay từ năm 1919, trong “Bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam ”do Nguyễn Ái Quốc (thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam) gửi tới Hội nghị Vécxây thì đã có tới 4 điều liên quan tới vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Tới năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã chuyển bản yêu sách nêu trên thành Việt Nam yêu cầu ca, trong đó có yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Đây là một trong những quan điểm rất đặc sắc của Nguyễn Ái Quốc, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới, tức là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.

Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, tư tưởng nhà nước pháp quyền được Hồ Chí Minh xác lập một cách rõ nét trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945. Ngay sau đó một ngày, trong bài phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, một trong 6 nhiệm vụ cấp bách được Hồ Chí Minh đề ra là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”, đã tỏ rõ ý chí xây dựng nhà nước pháp quyền của Người và Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch. Đặc biệt, cùng với chủ trương xây dựng Hiếp pháp, ngày 10.10.1945, Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 47  “Về việc tạm thời sử dụng bộ luật cũ, trừ một số điểm thay đổi được ấn định trong sắc luật này” để điều chỉnh các quan hệ dân sự. Qua việc này cho thấy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa của nó, tức là pháp luật của các chế độ xã hội có những giá trị nhân bản chung mà chúng ta có thể kế thừa và phát triển.

Nội dung và tinh thần của “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” đã thể hiện khá đậm nét qua bản Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh trực tiếp làm Trưởng ban soạn thảo. Tư tưởng đó lại được khẳng định rõ ràng qua bài “Dân vận” được Người viết và đăng ở báo Sự thật ngày 14.10.1949.

Theo đánh giá của giới nghiên cứu, bản Hiến pháp năm 1946 được soạn thảo theo tư tưởng pháp quyền nên đã thực sự trở thành một hiến pháp  dân chủ và tiến bộ như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếc rằng, do điều kiện chiến tranh nên nhân dân ta đã không có điều kiện để thực thi nhiều điều khoản của bản Hiến pháp đầu tiên này. Sau năm 1954, do tình hình kinh tế – xã hội đất nước có nhiều thay đổi, Hiến pháp năm 1946 không còn thích hợp nữa nên Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 1959) nhằm bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình.

Ngoài hai đạo luật gốc (Hiến pháp 1946 và 1959), từ năm 1945 đến năm 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo và ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật. Khối lượng văn bản luật đó là biểu hiện tính của tính nhân đạo, nhân văn, bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân làm chủ. Theo Hồ Chí Minh thì: “Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”.

Pháp luật dân chủ ở Hồ Chí Minh cũng cần được xem xét trong các mối quan hệ hết sức đặc trưng. Đó là, trong quan niệm về thực chất của dân chủ, Người nhấn mạnh: “Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy”.
Trong việc xác định rõ giới hạn của quyền tự do cá nhân, Người nói: “Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp. Không thể có tự do cho bọn việt gian, phản động, bọn phá hoại tự do của nhân dân”.

Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh

Trong việc xử lý mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ công dân, Hồ Chí Minh khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật cả về nghĩa vụ, ai vi phạm phát luật đều bị xử lý nghiêm khắc, bất luận người đó có vị trí như thế nào trong xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm pháp luật được thực thi trong quan hệ xã hội và mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. Người đặc biệt quan tâm đến tính nghiêm minh của việc thưởng phạt: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn” và “Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”. Người khuyến cáo: “Từ trước đến nay thưởng phạt chưa được làm đầy đủ, đó là một khuyết điểm to”, vì thế “phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt”.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, muốn pháp luật nghiêm minh và phát huy hiệu lực thì cần có các điều kiện sau:

– Pháp luật phải đúng và phải đủ. Pháp luật đúng là pháp luật phản ánh trung thành bản chất các quan hệ xã hội khách quan, tiếp cận đến chân lý, mà chân lý là tất cả những gì phù hợp với lợi ích của nhân dân. Còn pháp luật đủ là phải có tính đồng bộ, bao quát được các mặt, các loại quan hệ và các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Pháp luật phải đến được với người dân. Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm chỉ đạo để đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành. Ở nước ta, dưới chế độ cũ, bọn thực dân phong kiến tìm cách làm cho dân ngu để dễ bề cai trị. Dưới chế độ dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục lại nhân dân, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ và dùng quyền dân chủ của mình. Thực tế đã chứng minh, pháp luật chỉ có hiệu lực khi nhân dân có những hiểu biết nhất định về văn hóa, chính trị, pháp luật và quyền công dân.

– Người cán bộ trực tiếp thi hành pháp luật phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ làm công tác tư pháp – những người đại diện cho cán cân công lý có vai trò rất quan trọng trọng việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc tháng 2 năm 1948, Người căn dặn: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc… Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”. Tiếp đó, vào năm 1950, trong bài nói chuyện tại Hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp, Người lại yêu cầu về công tác xử án là: “phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung tòa án. Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng”. Hồ Chí Minh cũng chính là tấm gương sáng, mẫu mực trong việc thực thi pháp luật.

Đi với những ai cố tình lợi dụng chức vụ và quyền hạn để vi phạm pháp luật hoặc xử lý không đúng và không nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và của Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật là hết sức rõ ràng và dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.

Hồ Chí Minh quan niệm pháp luật không phải để trừng trị con người mà chính là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp luật của Người không chỉ là đề cao pháp luật dân chủ mà còn mang đậm tính nhân văn cao cả, thể hiện tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho hạnh phúc, ấm no của nhân dân; thấm đẫm tình nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc ta. Vì thế có thể nói pháp quyền Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa.

Trên thế giới từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây tồn tại hai phương thức trị nước chủ yếu đó là: đức trị và pháp trị. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến quyền lực của Nhà nước Việt Nam phải được vận hành và quản lý bằng pháp luật kết hợp chặt chẽ với việc giáo dục đạo đức. Quan niệm về sự thống nhất giữa đức trị và pháp trị trong quan điểm của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống văn hóa phương Đông và từ tấm gương trị nước của các vị vua chúa hiền minh trong lịch sử Việt Nam.

Trong thực tế, Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ việc quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật (pháp trị) với việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng và bản lĩnh công dân (đức trị) cho cán bộ và quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh nhận thức rõ ràng là cả pháp luật và đạo đức được dùng với mục đích là góp phần điều chỉnh hành vi của con người, nâng con người lên, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Pháp luật có tác dụng góp phần hoàn thiện nhân cách làm người, còn đạo đức góp phần giúp con người thực hiện luật pháp một cách tự giác hơn.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức chính là cơ sở để xây dựng và thực thi pháp luật. Nền pháp quyền của Nhà nước ta là một nền pháp quyền hợp đạo lý và có nhân tính cao. Hồ Chí Minh đã lý giải: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác trong lúc này, là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Phải làm sao đóng góp vào việc làm cho nước độc lập, dân được tự do, hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ”.

Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong quan niệm xử lý các hành vi phạm pháp, nguyên tắc có lý, có tình chi phối mọi hành vi ứng xử của con người, tôn trọng cái lý, đề cao cái tình, tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh mặt này hay mặt khác.

Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người để xây dựng và hoàn thiện thể chế Nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, “đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”  là một trong 9 vấn đề lớn được nêu lên trong Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về các Văn kiện Đại hội XI của Đảng do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trình bày tại Đại hội XI của Đảng ngày 12.1.2011.

Thực tế cho thấy, ở nước ta việc nhận thức và thực hiện nhà nước pháp quyền của Đảng là một quá trình. Do nhiều lý do chủ quan và khách quan, nên trước những năm 90 của thế kỷ XX, trên bình diện lý luận, chúng ta mới chỉ dùng các khái niệm như “Nhà nước chuyên chính vô sản” hay “Nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Phải đến năm 1994, vấn đề nhà nước pháp quyền mới được nêu ra chính thức trong văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ, Khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Đảng ta đã nhận thức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng nhân loại; xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước pháp quyền duy nhất; mà dựa trên cơ sở kinh tế – xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau, vẫn tồn tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Gần đây nhất, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định rõ rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Về bản chất của Nhà nước ta, trong Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (đã được bổ sung và sửa đổi năm 2001) cũng đã khẳng định rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn. Việc đổi mới thật sự phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết hiện nay…

Lê Hoàng Lê—-ĐBND

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@chutichhochiminh.net
Xem thêm: